Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Mùa Vu Lan Nhớ Mẹ Cha Nguyện Cho Cha Mẹ Muôn Đời Bình An


Khi em được cài hoa Hồng đỏ
Hãy nhắc lòng chử hiếu hành trì
Cõi ta bà muôn lối nẽo đi
Nhưng tình mẹ vẫn là tình bất tử

***********

Nếu em được cài hoa Hồng trắng
Em đừng buồn hãy thấu lý vô thường
Nguyện sống lành và ban rãi tình thương
Cũng như mẹ của em khi còn sống

**********************

Đừng để nước mắt rơi trên má
Đừng bỏ qua những giây phút êm đềm
Hạnh phúc đi em trong giây phúc ấm êm
Khi còn mẹ bên em trong hơi thở

*****************

Sao em khóc khi cài hoa Hồng đỏ
Sao em buồn khi nhìn lại mẹ yêu
Cố lên em, chăm sóc mẹ muôn điều
Để trả lại ít nhiều công sinh dưỡng

Minh Thông

Truyền thuyết về Quán Âm Dương Liễu (nguồn gốc hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm phổ biến nhất)


Một hôm, Ngài Quán Âm đến vùng Trung Châu, chọn một động đá trên núi Thái Thất làm nơi hiển hóa. Đêm ấy, Ngài ứng mộng cho dân chúng các vùng lân cận, nói với họ rằng:

– Vài ngày nữa Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ đi ngang chỗ này để điểm hóa cho những người có nhân duyên, cứu họ thoát tất cả mọi khổ ách. Các vị hãy lưu tâm chờ đợi, đừng bỏ lỡ cơ hội Bồ Tát đứng trước mặt mà không thấy. Nhưng thấy hay không là tùy nơi lòng thành tâm của mỗi người, chỉ cần có lòng thành là thế nào cũng gặp.

Nói xong, Ngài hiện ra bảo tướng trang nghiêm, một lúc sau, bảo tướng từ từ biến mất. Hôm sau mọi người gặp nhau, ai cũng bàn tán về giấc mộng đêm qua. Thì ra ai cũng thấy đồng một giấc mộng, vì thế mọi người đều kinh ngạc, và ai cũng mong muốn, chờ đợi Bồ Tát giáng lâm.

Nhưng họ không biết Bồ Tát sẽ hóa thân là người nào để điểm hóa, cho nên người này nhìn người kia bèn nghi là Bồ Tát hóa thân, tạo ra những ngộ nhận khá khôi hài. Mấy ngày trôi qua rồi mà chưa ai phác giác ra Bồ Tát đã hóa thân ở đâu.

Thật ra, Bồ Tát Quán Âm hóa thân làm bà lão ăn xin, đã đến đây từ mấy ngày nay rồi. Lúc ấy đương gặp nạn hạn hán, thật lâu rồi trời không mưa, lúa mạ trong ruộng hầu như đã cháy khô, mùa màng không gặt hái được gì, trước mắt dường như thiên tai sắp giáng xuống, dân chúng thành trên xóm dưới ai nấy đều khủng hoảng. Khi họ thấy bà lão ăn xin thì họ bảo năm nay mất mùa, gặp cảnh thiên tai, chính mình còn đang buồn sầu vì cơm không có mà ăn, lấy đâu dư cơm cho người ăn xin!

Bà lão chần chừ nấn ná trước những cửa nhà như thế thật lâu mà cũng không xin được một miếng ăn nào. Cuối cùng bà không khỏi thở dài, tự nói cho mình nghe:

– Ôi thật đang tiếc, hạn hán tuy là một thiên tai nhưng cũng là do con người tự chiêu cảm lấy mà thôi! Giá như dân chúng ở đây biết kính trọng trời đất, biết làm việc thiện một chút, bớt việc giết chóc, quy y cửa Phật thì trời đâu có giáng tai họa xuống cho họ như thế này! Thật đáng thương cho tôi, một bà già đói khổ, tới đây xin ăn khắp cả mười nhà rồi mà không xin được lấy một hạt thóc hay nửa hạt gạo! Ở đây thiên hạ thật là không biết hướng thiện. Người mà không biết hướng thiện thì tránh làm sao được tai họa?

Lúc ấy có một ông lão tên là Lưu Thế Hiển, nghe được những lời than thở của bà lão cảm thấy có gì kỳ lạ, hơn nữa cũng thấy những lời bà nói thật là có lý. Bất giác ông nghe tâm động, tự nghĩ: “Có khi nào chính bà cụ này là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát chăng?”. Mấy hôm nay thiên hạ xôn xao tìm kiếm, nhưng không hề có lấy một người chú ý tới người đàn bà già yếu đến từ phương xa này, chỉ vì ai cũng có tâm bợ đỡ người quyền thế!

Ông bèn đến chào bà lão:

– Thưa cụ, những gì cụ nói tôi đã nghe thấy, lời cụ nói rất là có lý. Đúng như cụ nói, ở đất này người ta không biết hướng thiện nên mới chiêu cảm thiên tai, nhưng không biết thiên tai này có tránh được không? Nói cách khác, nếu ai cũng chịu hối lỗi và cải thiện, chẳng biết có cứu vãn được tình thế hay không?

Bồ Tát Quán Âm đáp:

– Lòng trời vốn rất nhân từ, tâm phúc thiện mạnh gấp ba tâm muốn trừng phạt kẻ ác. Chỉ cần người ta thật sự chịu thành tâm hối lỗi thì làm gì mà trời không dung tha, tai họa trước mắt có gì đâu mà không cứu được?

Lưu Thế Hiển nghe những lời ấy rồi, đoán chắc rằng bà cụ già này là Bồ Tát Quán Âm bèn quỳ xuống đất lễ lạy và nói:

– Bồ Tát trên cao, tạ ơn Bồ Tát hiển hóa thị hiện, đệ tử phàm phu mắt thịt không biết được từ dung, suýt nữa không thấy được Thái Sơn trước mắt! May nghe được những lời giáo huấn của Bồ Tát, tâm trí được mở mang, nay con quỳ xin Bồ Tát dùng chút pháp lực giáng xuống một cơn mưa lớn để cứu đất này khỏi nạn hạn hán. Đệ tử nguyện tạo chùa, cúng dường Bồ Tát và khuyến khích ngu dân một lòng hướng thiện, quy y Phật Pháp. Con van xin Bồ Tát từ bi ban ơn!

Nói xong, ông dập đầu lạy không ngừng.

Bồ Tát Quán Âm nghe Lưu Thế Hiển nói thì rất hoan hỉ, trả lời rằng:

– Còn có người có lòng như ông, biết chí thành cầu nguyện mà không vì lợi riêng, thật là hiếm có! Chỉ vì dân chúng ở đất này thật sự quá cứng đầu khó đổi, bị tai họa đâu có gì là lạ! Thôi thì để ta làm cho họ mắt thấy tai nghe cũng được. Ngày mai giờ ngọ ba khắc, ta quyết định hiển hóa ở trên núi Thái Thất, thi triển pháp lực làm một cơn mưa để cứu đất này khỏi nạn hạn hán, nhờ ông đi nói với tất cả mọi người ở đây, bảo họ đến xem, cho họ mắt thấy Phật Pháp vô biên thì lòng tin của họ mới chắc chắn, sau này ông có lấy lời thiện mà khuyến dụ thì cũng dễ cảm hóa họ hơn.

Lưu Thế Hiển lại cúi xuống bái tạ, nhưng Bồ Tát đã biến mất rồi.

Lưu Thế Hiển thuật lại cho mọi người nghe những lời nói của Bồ Tát Quán Âm, nhưng ai cũng nửa tin nửa ngờ:

– Giữa thanh thiên bạch nhật Bồ Tát xuất hiện, sao không ai thấy mà chỉ mình ông thấy?

Lưu Thế Hiển đáp:

– Bà già ôm bát đi xin ăn hồi nãy chính là hóa thân của Bồ Tát đó!

Mọi người nghe nói bà già ôm bát xin ăn ban nãy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát thì lấy làm kinh dị, họ tự giận mình có mắt như mù không nhận ra mặt Phật, cơ duyên ngay trước mắt mà lại bỏ lỡ. Lại có người tự trách sao đã không chịu bố thí lại còn bất kính đối với Bồ Tát nên ăn năn hối hận vô cùng. Lưu Thế Hiển an ủi:

– Bồ Tát có tôn chỉ là dùng từ bi để cứu khổ, Ngài sẽ không bắt tội các vị những chuyện lặt vặt như thế đâu, chỉ cần về sau các vị phát lòng tin chân thành là đủ. Ngày mai giờ ngọ ba khắc Bồ Tát sẽ hiện chân thân bảo tướng của Ngài, thi triển pháp lực làm một trận mưa, lúc ấy tất cả đều có thể thấy được từ nhan của Ngài.

Nghe thế mọi người lộ vẻ vui mừng, lập tức đi truyền bá tin này khắp nơi và chỉ trong khoảnh khắc, toàn thành đều biết. Một truyền mười, mười truyền trăm, rồi thì những làng mạc thành thị xung quanh cũng được nghe tin này luôn. Nghe nói Bồ Tát Quán Âm sắp đến đất này cầu mưa, ai nấy đều đổi buồn làm vui, chờ đợi Bồ Tát hiển linh.

Sáng sớm tinh sương ngày hôm sau, dân chúng toàn vùng, nông dân ngừng cày ruộng, phụ nữ ngừng dệt vải, tiệm buôn ngừng bán hàng, ai cũng đốt nến thắp hương, chân thành đảnh lễ, chờ đợi giờ ngọ ba khắc Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện Pháp thân. Nam nữ già trẻ ai cũng ngưỡng cổ nhìn lên trời, đến chớp mắt cũng không dám chớp lấy một lần!

Gần đúng chính ngọ, họ thấy trên đỉnh núi Thái Thất có một áng mây trắng nhẹ nhàng bay lên, rồi từ từ, chầm chậm tỏa rộng ra, càng lúc càng rộng. Đột nhiên giữa áng mây trắng có một con đường thông thẳng lên tới đỉnh núi Thái Thất và kim thân Bồ Tát Quán Âm cao một trượng sáu xuất hiện trên đầu núi. Đầu Ngài đội khăn, thân khoác cà sa, tay cầm một cái bình bằng ngọc màu trắng ngà, trong bình đựng cam lồ và cắm một nhành dương liễu. Ngài đi chân không, đứng trên một tảng đá bằng ánh sáng.

Mọi người nhìn thấy Ngài bèn quỳ xuống lễ lạy, niệm lớn “Đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát”. Bồ Tát Quán Âm cầm nhánh liễu chấm vào nước cam lồ, hướng về các thửa ruộng ở bốn phương đông tây nam bắc phất tay rảy nước. Lạ thay, mây mù lập tức tụ họp trong không trung, một cơn mưa lớn như xối đổ xuống không ngừng trong cả tiếng đồng hồ, sau đó mây mới tan và mưa mới ngừng, hơi nước bốc lên mù mịt. Trong cơn mưa rào ấy, hình ảnh Bồ Tát từ từ ẩn mất.

Nhờ cơn mưa rào trừ được nạn hạn hán cứu trăm họ trong một vùng đất rất lớn khỏi cảnh thiên tai, nên hình ảnh Bồ Tát Quán Âm từ bi đã khắc sâu trong tâm những người dân ở đấy. Quả nhiên, sau đó họ trở thành những người chân thành tin kính Phật Pháp.

Lưu Thế Hiển bèn quyên tiền xây một ngôi miếu ngay tại chỗ mà đức Quán Âm đã hiện thân trên đỉnh núi Thái Thất, trong miếu có tạc tượng Quán Âm Đại Sĩ, ngày ngày dâng cúng hương hoa. Còn động đá nơi hóa thân Bồ Tát đã dừng chân nay cũng đổi tên là động Quán Âm, hãy còn lưu lại cho đến bây giờ.

Đây là lần thứ nhất Bồ Tát Quán Âm hiện thân ở Trung độ dưới Đại Bi tướng, đó chính là Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát vậy.

Bồ Tát Quán Âm hiển hóa lần thứ nhất tay cầm tịnh bình dương liễu cho nên thế gian còn gọi lần hiển hóa ấy là “Dương Liễu Quán Âm”. Đây là hình ảnh Bồ Tát Quán Âm được lưu hành nhiều nhất nên đã trở thành phổ biến, dân chúng còn gọi là “Thánh Quán Âm”.

(Diệu Hạnh Giao Trinh dịch - Nguyễn Minh Tiến hiệu đính và giới thiệu)

Ý Nghĩa Của Số Tràng Hạt


- 108 hạt : biểu thị 108 pháp Tam muội cầu tu chứng và đoạn trừ 108 phiền não.
- 54 hạt : biểu thị cho 54 nấc thang tu hành của Bồ Tát gồm Thập Tín, Thập Trụ, Thâp Hạnh. Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Tứ Thiện Căn Nhân Địa.
- 42 hạt : biểu thị cho 42 nấc thang tu hành của Bồ Tát gồm Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Đẳng Giác, Diệu Giác.
- 21 hạt : biểu thị cho 21 quả vị, tức là Thập Địa, Thập Ba La Mật và quả vị Phật.
- 18 hạt : biểu thị cho 6 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), 6 thức (nhìn, nghe, nếm, chạm, ý thức), 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà người tu cần nhiếp phục
- 14 hạt : biểu thị cho 14 Pháp Vô Úy của Bồ Tát Quán Thế Âm
- 12 hạt : 12 nhân duyên: vô minh, hành, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử

C. Cách lần chuỗi:
Cầm tràng bằng hai tay đưa lên ngang chán hoặc ngang ngực rồi đọc bài khai tràng:

Tràng 18 hạt đọc:

Diệu quả Bồ Đề ly chưởng chưởng
Thủ khai thiên tỏa vạn trùng trùng
Thập bát chuyển luân La Hớn tướng
Thiên quan giáng phước hiện vô cùng
Nam mô Định Tâm Vương Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3 lần )

Tràng 108 hạt đọc:

Tay cầm trăm tám hạt bồ đề
Lần tràng tội diệt thoát về Tây phương
Xa lìa sáu nẻo ba đường
Ngồi tòa sen đẹp nương theo Di Đà
Án phệ lô giá na, mạ lạ, mạ lạ, ta phạ ha (7 lần)

Tùy theo thuận tay phải hay trái lần từ mấu tràng trở đi, niệm Phật 1 câu lần 1 hạt, cho đến khi tới đầu tràng thì lần ngược trở lại không được lần qua đầu tràng. Nếu lần qua đầu tràng là phạm tội vượt pháp. Đối với chuổi 18 hạt, lần 6 chuỗi sẽ được 108 lần, chuỗi 12 hạt lần 9 chuỗi sẽ được 108 hạt. Con số 108 là pháp số viên mãn, với các tràng khác không là ước số thì lần vượt qua cũng được.

Dùng tràng niệm Phật có 2 phương pháp phổ biến:
1. Sổ châu niệm Phật:
Mỗi ngày tự đặt ra một hạn định, từ 1 tràng(108 lần) rồi tiến tới 3 tràng, 5 tràng, 7 tràng, 10 tràng, 20 tràng. Cứ như vậy ngày nào cũng niệm cho đến cuối đời chắc chắn được vãng sinh Cực Lạc.
2. Ký số niệm Phật:
Dùng một quyển sổ ghi lại kết quả công phu niệm phật một ngày, cứ như vậy đến niệm không gián đoạn, không bỏ ngày nào chắc chắn được vãng sinh Cực Lạc.

Chú ý: Chuỗi bồ đề cũng được gọi là pháp bảo nên khi dùng phải trân trọng, không nên để chuỗi nơi dơ bẩn, không nên đặt dưới nền, ghế, đem vào nhà vệ sinh, để người bước qua v.v… Nếu làm như vậy sẽ tổn phước.

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Đức Phật Dùng Từ Bi Độ Sát Thủ Tà Kiến Angulimala

Thuở xa xưa có một chàng trai con của một vị Bà la môn (giai cấp "tu sĩ" cao nhất ở Ấn Độ) sống dưới triều đại vua Pasenadi, thuộc vương quốc Kosala. Tên của chàng là Ahimsaka (người thất bại). Chàng được gởi đến thành phố Taxila để học hành. Ahimsaka rất thông minh và biết vâng lời thầy, nên chàng được cả thầy lẫn bà vợ thầy yêu mến. Điều này đã khiến cho các học viên các ganh tị với chàng. Vì thế họ tìm đến thầy giáo và vu cáo Ahimsaka có mối quan hệ bất chính trái đạo lý với bà vợ thầy. Thoạt tiên, không thầy không tin họ; nhưng sau khi nghe điều đó nhiều lần, ông nghĩ rằng đó là sự thật và thề sẽ trả thù Ahimsaka. Ông thầy nghĩ rằng việc giết học trò sẽ gây tai tiếng ảnh hưởng xấu cho ông. Cơn giận dữ thúc giục ông đề nghị một việc không thể tưởng tượng nổ đối với chàng thanh niên Ahimsaka trẻ tuổi và ngây thơ kia. Ông ta bảo cậu học trò phải giết một ngàn người và mang về ngón tay cái từng người để trả học phí về việc dạy chàng. Cố nhiên chàng thanh niên không muốn nghĩ đến một việc kinh khủng như vậy. Vì thế chàng đã bị tống cổ ra khỏi nhà thầy và trở về với gia đình cha mẹ.

Khi cha chàng biết được tại sao Ahimsaka đã bị đuổi, ông ta vô cùng tức giận đứa con mình và không chịu nghe lời giải thích lý do. Cũng chính trong ngày ấy, đang lúc trời đổ mưa xuống như trút nước, người cha ra lệnh Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka chạy đến mẹ chàng và xin lời khuyên. Nhưng bà không thể chống lại quyết định của chồng. Sau đó Ahimsaka tìm đến nhà vị hôn thê của chàng (theo cổ tục hứa hôn từ lâu trước khi đi đến hôn nhân thực sự ở Ấn Độ). Nhưng khi gia đình này biết lý do Ahimsaka bị đuổi ra khỏi trường, họ cũng xua đuổi chàng. Nỗi ô nhục, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của Ahimsaka đã làm cho chàng điên tiết lên. Trong nỗi đau đớn cùng cực đó, đầu óc của chàng chỉ nhớ lại mệnh lệnh khắc nghiệt của thầy: góp nhặt một ngàn ngón tay người. Và vì thế mà chàng bắt đầu lao vào cuộc chém giết hại như vậy, những ngón tay góp nhặt được chàng treo chúng lên cành cây. Nhưng chúng bị bầy quạ và diếu hâu phá hoại, sau đó chàng đã mang một vòng ngón tay để theo dõi số lượng.

Cũng vì điều này mà y dần dần được biết qua cái tên Angulimala (người đeo vòng ngón tay) và trở thành nổi hãi hùng cho vùng nông thôn này. Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của Angulimala và ra lệnh bắt y. Khi bà Mantani, mẹ của Ahimsaka, biết được ý định của vua, bà đi vào trong rừng với những nỗ lực tuyệt vọng để cứu con của bà. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala có một ngón là đủ một ngàn.

Đức phật biết được nỗ lực ngăn cản của người mẹ đối với con bà và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp vào thì Angulimala, đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số một ngàn, sẽ gặp mẹ mình và y có thể giết bà. Trong trường hợp đó, y sẽ chịu đau khổ còn lâu dài hơn nữa vì nghiệp ác của mình. Do lòng bi mẫn, Đức Phật đi đến khu rừng kia.

Sau nhiều ngày đêm mất ngủ, Angulimala rất mệt và gần như kiệt sức, y rất nôn nóng tìm cách giết người cuối cùng để đủ số lượng một ngàn và hoàn tất phận sự của mình, y quyết giết người đầu tiên mà mình gặp. Khi nhìn xuống từ nơi ẩn mình trong núi, y thấy một người đàn bà trên con đường phía dưới. Y muốn làm trọn lời thề của mình để có đủ một ngàn ngón tay, nhưng khi đến gần, y nhìn thấy người đó chíng là mẹ mình. Lúc ấy, Đức Phật cũng đang đi tới, và Angulimala liền định thần quyết giết chết người du sĩ kia để thay cho mẹ mình. Y liền vung dao bắt đầu đi theo Đức thế Tôn. Nhưng Đức Phật vẫn di chuyển trước mặt y. Angulimala không thể đuổi kịp được Ngài. Cuối cùng, y quát lên: "Này, khất sĩ kia, hãy đứng lại ! Đứng lại !", và đấng Giác Ngộ trả lời: "Ta đã đứng lại từ lâu, chính ngươi mới là người chưa dừng lại thôi !" Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì thế y lại hỏi: "Này khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại còn tôi vẫn chưa dừng ?"

Đức Phật đáp: "Ta nói rằng ta đã dừng lại vì ta từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã an trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và trí tuệ do tư duy quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc giết hại va đối xử tàn bạo với người khác cũng như chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi loài hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại".

Nghe qua những lời này, Angulimala như được nhắc nhở thực tại và suy nghĩ, đây là những lời của một bậc hiền nhân. Vị khất sĩ này hiền thiện và rất mực dũng cảm như thế chắc hẳn vị này là một nhà lãnh đạo các khất sĩ . Quả thực, chính Ngài hẳn là đấng Giác Ngộ rồi đây. Hẳn ngài đến đây chỉ vì mục đích làm cho mình thấy được ánh sáng. Suy nghĩ như vậy, y ném vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận y vào giáo đoàn khất sĩ, Đức Phật đã chấp thuận việc ấy.

Khi đức vua và quân lính đến bắt Angulimala, họ thấy người ấy đang ở trong Tịnh xá của Đức Phật. Biết rằng Angulimala đã từ bỏ ác đạo của mình và trở thành một vị tỳ kheo, vua và quần thần đều đồng ý để yên vị này. Suốt thời gian Angulimala nhiệt tâm thực hành thiền định.

Tôn giả Angulimala vẫn không được an tâm vì ngay cả trong lúc thiền định tĩnh lặng, Tôn giả thường nhớ lại quá khứ cùng với những tiếng gào thét thê thảm của những nạn nhân bất hạnh. Do một quả báo vì ác nghiệp kia, trong lúc đi khất thực trên đường phố, Tôn giả đã trở thành mục tiêu của đủ thứ gậy, đá ném vào và thường trở về Tịnh xá vỡ đầu chảy máu, đầy vết thương bầm tím, rồi lại được Đức Phật nhắc nhở: "Này pháp tử Angulimala, con đã từ bỏ việc ác, hãy kham nhẫn lên. Đây là hậu quả của ác nghiệp mà con đã gây tạo ở đời này. Đáng lẽ ra ác nghiệp sẽ còn làm con khổ đau qua vô lượng kiếp nếu trước đây ta đã không gặp con".

Mọt buổi sáng, trong lúc đang trên đường đi khất thực ở thành Savatthi, Tôn giả Angulimala nghe tiếng ai đang kêu khóc đau đớn. Khi Tôn giả biết đó là một thai phụ đang đau vì chuyển dạ và gặp khó khăn lúc sanh con. Tôn giả suy nghĩ tất cả chúng sanh trên thế gian này đều phải chịu đau khổ. Động lòng từ, Tôn giả kể lại với Đức Phật nỗi khổ đau của người phụ nữ đáng thương kia. Ngài đã khuyên Tôn giả nói lên những lời thề chân thật, lời đó về sau này có tên là Anggulimala Paritta (thần chú hộ mệnh Angulimala). Đi đến trước mặt người sản phụ đang chịu đau đớn kia, Tôn giả ngồi xuống cách bà ấy một tấm màn che và phát nguyện những lời sau: " Này chị, từ ngày tôi đắc quả A la hán, Tôi chưa từng cố ý sát hại mạng sống của sinh linh nào. Nhờ sự thật này, cầu cho chị được an lành và đứa bé sắp sanh của chị cũng được an lành".

Ngay lập tức người sản phụ liền sanh con một cách dễ dàng. Cả mẹ lẫn con đều được khẻo mạnh. Cho đến nay nhiều người vẫn dùng đến thần chú hộ mệnh này.

Tôn giả Angulimala thích sống độc cư và biệt lập. Sau đó Tôn giả viên tịch một cách yên bình. Là một vị A la hán, Tôn giả chứng đắc Vô dư Niết bàn.

Các Tỳ kheo thỉnh ý Đức Phật về nơi tôn giả Angulimala tái sanh, và khi Đức Thế Tôn đáp pháp tử Angulimala đã chứng đắc Vô dư Niết bàn, thì chư vị không thể tin điều đó. Vì thế chư vị lại hỏi liều có thể nào một người đã giết quá chứng đắc Niết bàn Vô dư y chăng. Trước câu hỏi này, Đức Phật đáp: "Này các Tỳ kheo, Angulimala đã tạo quá nhiều ác nghiệp, vì vị ấy không có đã tìm được nhiều thiện hữu tri thức và nhờ sự giúp đỡ cũng như lời khuyên tốt mà vị ấy đã trở nên kiên định và chuyên tâm thực hành giáo pháp và thiền định. Như vậy, nghiệp ác của vị ấy đã được thiện nghiệp lấn át che phủ và tâm của vị ấy đã hoàn toàn đoạn trừ cả lậu hoặc. Đức Phật lại nói về tôn giả Angulimala:

"Ai dùng các hạnh lành
Xoá mờ bao nghiệp ác
Chiếu sáng cõi đời này
Như trăng thoát khỏi mây"
Sức mạnh của lòng từ bi bao giờ cũng mạnh hơn bất cứ ác nghiệp nào. Và đó cũng là điều kiện tuyệt đối để giác ngộ.

(Thích Nguyên Tạng dịch)

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Phật pháp định hướng con đường tôi đi



Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/pethiensu_luv_nhokacwy/article?mid=52&prev=53&next=50

Khi biết đến Phật pháp, tôi mới nhận ra cái ngã mạn của tâm mình rất lớn. Cả ngày, tôi chỉ vùi đầu vào học đến 1-2 giờ sáng mới chợp mắt, mới 5 giờ sáng chuông đồng hồ đã reo vang inh ỏi. Do tham, si, lúc nào cũng muốn hơn người, tôi học càng nhiều và càng khao khát những gì bỏ ra phải được đền bù xứng đáng. Đó là sai lầm thứ nhất của tôi.

Chẳng biết từ khi nào mỗi lần tâm bấn loạn, tôi lại nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà? Sinh ra và lớn lên trong gia đình trí thức, mẹ là giáo viên cấp II, ba là giáo viên dạy toán cấp III, tôi thừa hưởng yếu tố di truyền từ cả ba lẫn mẹ. Mặc dù, gia đình không khá giả lắm nhưng từ nhỏ tôi đã được tạo điều kiện để học tập. Lên cấp III, trải qua cuộc thi chuyển cấp, tôi may mắn vượt qua nhiều người để trở thành một trong những học sinh giỏi nhất của lớp chuyên ban tự nhiên. Là học sinh lớp chuyên nên tôi nhận được nguồn tri thức dồi dào và tiến bộ từ đội ngũ giáo viên nhà trường. Toán nâng cao, vật lý nâng cao, hóa nâng cao và sinh học cũng nâng cao. Khác với nhiều bạn bè cùng trang lứa, vì gia đình không đủ điều kiện phải học trường làng, tất cả các môn các bạn đều học cơ bản. Đó là một trong những nguyên do dẫn đến những suy nghĩ sai lầm của tôi sau này.

Qua hai năm học xa nhà, ở trọ với bao lo toan trong việc học hành, ăn ở. Năm lớp 12, chuẩn bị cho kỳ thi đại học quan trọng sắp tới, tôi xin chuyển về trường gần nhà để nhận được sự chăm sóc chu đáo từ gia đình. Bước vào môi trường mới, tôi mang trong tâm và trí một suy nghĩ ấu trĩ “Mình đã từng học trường giỏi hơn, gia đình đủ điều kiện hơn nên mình phải thi đậu đại học điểm cao hơn…”. Cứ ngỡ rằng, suy nghĩ ấy sẽ thôi thúc ý chí quyết tâm ham học của tôi. Và sự thật, thời gian đầu, tôi đã lao mình vào vòng xoáy của việc học tập. Khi ấy, tôi học chỉ để kiếm điểm cao hơn mọi người, để ganh đua và chứng tỏ ta đây là dân chuyên toán, lý, hóa.

Khi biết đến Phật pháp, tôi mới nhận ra cái ngã mạn của tâm mình rất lớn. Cả ngày, tôi chỉ vùi đầu vào học đến 1-2 giờ sáng mới chợp mắt, mới 5 giờ sáng chuông đồng hồ đã reo vang inh ỏi. Do tham, si, lúc nào cũng muốn hơn người, tôi học càng nhiều và càng khao khát những gì bỏ ra phải được đền bù xứng đáng. Đó là sai lầm thứ nhất của tôi.

Tôi là cô bé hơi tròn trịa, học nhiều nhưng dáng vóc chẳng ốm hơn bao nhiêu. Sự chấp vào thân giả tạm khiến tôi cố nhịn ăn để trở thành mẫu người lý tưởng “vừa học giỏi, vừa xinh đẹp”. Đó là sai lầm thứ hai của tôi. Thấy con học nhiều mà ăn ít, ba mẹ tôi rất đau lòng. Nhưng sự u mê của tâm hồn, đánh mất lí trí đã che mờ mắt tôi. Cứ khăng khăng làm điều mình muốn, vẫn thức khuya, dậy sớm học toán, lý, hóa, tôi tự cho mình là hơn người.

Nhưng chuyện đời vô thường, đâu dễ cầu gì được nấy. Do học quá sức và ăn uống không đủ chất dinh dưỡng, càng ngày tôi càng mệt mỏi. Thời gian nộp hồ sơ thi đại học đã đến, tâm tôi bắt đầu bấn loạn, tôi không còn hào hứng như ban đầu. Học nhiều nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu. Mỗi lần thua bạn bè, tôi dằn vặt, đau khổ và căm ghét chính bản thân. Sự so sánh hơn thua cứ tái diễn trong đầu tôi. Tôi cảm thấy bất an cho tương lai. Tôi bắt đầu sợ thi cử, sợ thi đại học. Nỗi lo sợ như căn bệnh truyền nhiễm, đã lây lan sang những người thân trong gia đình. Ba mẹ buồn và khuyên tôi nên lấy lại tinh thần. Ba mẹ chỉ mong tôi có thể đậu đại học kinh tế - một trường vừa sức và tầm với không quá cao để tôi không bị gò ép về tinh thần. Không hiểu sao, càng học tôi càng mệt mỏi, càng quyết tâm qua mặt bạn bè thì chính tôi lại là người đứng sau họ. Nỗi lo sợ lấn chiếm tâm hồn tôi. Tôi rơi vào trạng thái mông lung, không biết đâu là chốn dừng chân cho cuộc sống của mình. Giá như, Phật pháp đến với tôi sớm hơn! Giá như, tôi được biết đến chùa Hoằng Pháp! Và một lần được gặp các thầy để nghe những lời dạy bảo thân thương bên tai! Nhưng đó vẫn chỉ là… giá như!

Cái gì đến rồi cũng sẽ đến. Tôi quyết định học thêm toán đại trà do chính ba tôi dạy ở nhà. Ngày hôm đó là ngày quyết định cho chuỗi ngày dài của tôi sau này. Một đề toán thi thử đại học, tôi quyết tâm giải nhanh, giải đúng để xứng đáng là con nhà toán. 3 phút… 5 phút trôi qua, một thằng bạn trong lớp đưa ra kết quả đúng. Tôi cảm thấy bực mình, tay chân cuống quýt. 6 phút… 7 phút nữa trôi qua, tôi đưa ra kết quả… sai! Tâm ghen tức, ganh tị trong tôi trỗi dậy, tôi không muốn thua, tôi muốn là người thắng cuộc. Buổi học kết thúc trong sự nặng nề và bực dọc. Học xong tôi chạy thẳng vào phòng, quơ tay, quơ chân đạp vào tường, khóc tức tưởi. Ba mẹ thấy cảnh tượng đó, ngạc nhiên và xót xa nhưng kiên quyết bảo “Với tính cách hơn thua ấy, sau này con sẽ dễ dàng thất bại!”. Thất bại ư? Tôi dằn vặt mình và tự nhủ “Được thôi! Cuộc sống này không chấp chứa tôi, không cho tôi là người thắng cuộc thì tôi sẽ đi… tu!”. Một phút suy nghĩ bồng bột!

Sáng ngày hôm sau, tôi đến trường với bộ mặt nặng nề, gặp chuyện không vui. Trưa về nhà không ăn uống, ba mẹ buồn rầu cũng không thèm hỏi han, quan tâm. Đúng chiều ngày hôm đó, tôi xách đồ ra đi với lá thư từ biệt để trên bàn. Không hiểu vì cớ gì, nhân duyên gì, từ khi bước chân ra khỏi nhà, tâm tôi đã hướng về cửa Phật. Đi xe buýt trên con đường hai năm trước mình từng đi học xa nhà, tôi chọn tịnh xá Ngọc Định làm nơi trú chân cho mình qua giai đoạn tâm trạng đau khổ này. May thay! Các Ni ở tịnh xá mở lòng từ bi, thương tình chấp chứa đứa con bỏ nhà ra đi. Ở đó, được làm công quả, được ăn chay niệm Phật, tâm tôi dần tĩnh lặng, trải lòng mình để tiếp nhận ánh sáng Phật pháp vi diệu!

Được sống tĩnh lặng là như thế nhưng tôi nào biết ba mẹ, người thân đau khổ khi biết tin tôi bỏ ra đi! Họ sợ tôi làm điều dại dột! Mẹ tôi khóc ngày, khóc đêm, ba tôi xách xe chạy khắp các nẻo đường tìm tôi, em tôi khóc đỏ mắt phải nghỉ học. Ai thấy cảnh tượng ấy mà không xót xa, đau lòng?

Tôi ở tịnh xá một ngày, hai ngày rồi ba ngày, các Ni khuyên tôi về nhà kẻo gây tội bất hiếu với ba mẹ. Gọi điện về nhà, nghe giọng tôi mà mẹ thổn thức, nghẹn ngào. Tôi cũng khóc và quyết định quay về chốn thân thương thưở nào. Ba mẹ ôm chầm tôi khóc nức nở. Tôi hối hận và hổ thẹn vô cùng khi bỏ ba mẹ mà đi trong sự cay đắng và hờn giận. Còn ba mẹ lại mở rộng “vòng tay yêu thương” mà không hề oán giận tôi một lời.

Ngày thi đại học gần kề, tôi nộp hồ sơ thi đại học kiến trúc, khối H (Văn, Vẽ, Vẽ) - một trường trái hẳn với năng lực và sở trường của tôi. Đơn giản vì không muốn mọi người nhìn thấy sự thất bại với chuyên môn của mình. Tôi trở thành người “độc nhất, vô nhị” khi chọn thi khối năng khiếu. Tâm hơn thua của tôi vẫn chưa bỏ. Tôi sợ, tôi sợ thi khối tự nhiên thấp điểm hơn bạn bè, sẽ bị cười chê. Ba mẹ một lần nữa lại đau lòng trước quyết định của tôi. Nhưng, họ không cản trở hay la mắng tôi nữa. Kỳ thi đến nơi, tôi đã rớt đại học trong khi bạn bè thi đậu trường này, trường kia. Tôi oán trời, trách đất! Tôi oán hận, tại sao tôi lại sinh ra trên cõi đời này để nhận lấy sự thất bại? Thất bại trong tủi nhục và đau đớn.

Chuỗi ngày dài sau khi biết tin rớt đại học, tưởng chừng như tôi đang sống giữa địa ngục trần gian. (Mọi lời bàn ra, tán vào như mũi kim đâm sâu vào tim tôi. Chỉ vì tôi là con giáo viên dạy toán cấp III. Nào đồng nghiệp, nào học sinh của ba nhìn vào mà chỉ trích - Tôi tưởng tượng như vậy và nhận đau khổ về mình!) Nhìn nỗi buồn hằn trên khuôn mặt người thân mà tôi như muốn chết đi, sống lại. Nhưng cuối cùng, tôi cũng quyết định thi lại.

Thật may mắn, trong thời gian này, tôi được xem đĩa Phật pháp nhiệm màu do cô Nguyễn Hướng Dương trình bày. Cuộc đời cô gặp nhiều trở ngại, cay đắng hơn tôi. Cô chỉ ra đâu là được và mất, đạo lý nhân quả của nhà Phật mà bản thân cô cũng từng là nạn nhân của nghiệp báo ứng hiện đời.

Tôi cũng tình cờ được xem các đĩa chương trình Ánh sáng Phật pháp do quý thầy chùa Hoằng Pháp thuyết giảng. Tôi từ từ ngộ ra chân lý vi diệu của Phật pháp, bỏ tâm sân si, ganh ghét, đố kị, xem nhẹ cái thân giả tạm này. Khi học theo đạo lý Phật dạy cuộc đời là vô thường, tôi không còn đau khổ, hiểu được luật nhân quả báo ứng, “đâu biết chừng quả mà tôi gặt hôm nay là nhân tôi gieo ngày trước!”. Tôi còn mừng rỡ mà đón nhận sự thất bại trong thi cử, bởi một lần trượt nhưng tôi còn có cơ hội làm lại cuộc đời vững chãi hơn. Giả như không rớt đại học mà chịu đau khổ do mất người thân liệu tôi có còn cơ hội để đáp đền công ơn sinh thành của bậc phụ mẫu. Cảm ơn lưới trời lồng lộng đã cho tôi cơ hội để nhìn lại cuộc đời mình. Hơn thế nữa, tôi đã học được ở quý thầy sự bình tĩnh khi giải quyết một vấn đề.

Và thật sự thành kính tri ân Ngài - đức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhờ ánh hào quang của Ngài soi sáng mà ngày nay con đã tìm thấy niềm vui trong ngôi trường mới - Đại học Ngân Hàng.

Thy Mai

Đạo Phật và tuổi trẻ - HT Thích Thanh Từ



Lâu nay đa số người Việt Nam cho rằng: Ðạo Phật là dành riêng cho các bậc già nua tuổi tác, nhờ câu kinh tiếng kệ an ủi những ngày tàn; hoặc kẻ bị tình đời đen bạc hay người đã mấy phen vấp ngã trên bước công danh quay về nương tựa cửa thiền, nhờ giọt nước cành dương rưới dịu đôi phần sầu hận; hoặc những người đau ốm tật nguyền sống thừa thãi ngoài xã hội về núp bóng từ bi, nhờ hột cơm, manh áo của đàn-na tín thí để đỡ phần cơ cực.....

Quan niệm ấy đã ăn sâu trong tâm não dân chúng, nên khi thấy một thanh niên cạo tóc xuất gia, hoặc đến chùa lễ Phật thì họ xầm xì cho là chán đời, là bi quan, là trốn nợ xã hội. Nhưng họ đâu ngờ đạo Phật là "đạo của tuổi thanh xuân đang căng nhựa sống và tha thiết yêu đời".

Nói thế, không phải cố gò bó đạo Phật cho gần với tuổi trẻ, mà vì thật tánh của đạo Phật rất thích hợp với hàng hoa niên. Sự thích hợp ấy bởi những điểm:

Thanh tịnh: Ðạo Phật cốt đào luyện tâm hồn người hoàn toàn trong sạch, nên cực lực sa thải những tính: tham lam, sân hận, oán thù... đang trú ẩn trong tâm giới người. Nhưng từ lúc thanh niên, người ta phải cất mình ra khỏi cổng nhà cha mẹ, bắt tay vào việc cạnh tranh, chiến đấu với đời, từ đó những tánh xấu, tham lam, sân hận... càng ngày tập nhiễm càng sâu, đến đen tối cả tâm hồn. Lúc tuổi già muốn gột rửa nó là cả một sự khó khăn. Như chiếc áo trắng đã nhuộm chàm, muốn giặt tẩy trắng lại không phải là việc dễ. Trái lại, tuổi thiếu niên tâm hồn còn trong trắng, những tính xấu nếu có, cũng chỉ một vài điểm nhỏ thôi. Nếu họ sớm biết thức tỉnh quyết tâm tẩy trừ thì rất dễ dàng, như chiếc áo trắng vừa vấy vài vết nhơ, giặt tẩy rất mau sạch. Vì thế tuổi thiếu niên rất thích hợp với đức thanh tịnh của đạo Phật.

Chân thật: Ðạo Phật là đạo như thật, người tu theo đạo Phật cần phải xa lìa những điều giả dối để trở về với sự thật. Phật cấm nói dối và dạy quán vô thường, bất tịnh, khổ... đều nhắm mục đích này. Tuổi trẻ là ngây thơ chất phác, nghĩ sao nói vậy, nên ít biết dối trá xảo quyệt; nhưng đến lúc thành niên, để bắt chước theo thói xã giao, hoặc vì sự mưu sanh, người ta lần lần tập nhiễm những điều xảo trá và xa dần sự thật. Khi đi xa mà muốn quay về là nhọc nhằn hơn lúc ở gần; vì thế tuổi trẻ còn chất phác, nhiều thành thật, nên rất gần với đạo Phật.

Từ bi: Ðạo Phật là đạo Từ bi, là đạo cứu khổ chúng sanh bằng mọi phương tiện và mọi hình thức. Người tu theo đạo Phật là hy sinh đời mình để mưu hạnh phúc cho chúng sanh, và mở tâm lượng bao la trùm tất cả mọi loài trong tình thương bình đẳng. Với tâm lượng ấy, với chí hy sinh ấy, người lưng còng, má cóp có thể đảm đang nổi chăng? Người ốm đau bệnh tật có thể gánh vác được không? Và người thực hiện được điều này có thể gọi là bi quan yếm thế chăng? - Cố nhiên phải là người niên tráng lực cường, thân hình căng đầy nhựa sống, mới đủ khả năng sớt cơm, chia áo và gánh vác những điều khó khổ nhọc nhằn cho chúng sanh. Hơn nữa, tuổi thiếu niên là tuổi phóng tầm mắt nhìn khắp vũ trụ bao la và muốn ôm cả nhân loại vào lòng; nhưng đến khi đã cột mình trong bổn phận làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ... thì chí cả ấy bị đóng khung trong gian nhà chật hẹp của gia đình, rồi dần dần nó bị tiêu ma như hạt sương tan theo dưới ánh nắng. Ðang khi tâm hồn khoáng đãng của tuổi thanh xuân mà gặp được tình thương vô bờ bến của tâm lượng Từ bi thì, ôi! Sung sướng nào hơn nữa?

Tinh tấn: Phật quả là một quả vị vô thượng. Người muốn đạt được quả vị này phải trải lắm công phu nhọc nhằn khổ sở, với thời gian dài đằng đẵng, đâu phải tu một sớm một chiều mà chứng được, trừ những bậc Bồ-tát thị hiện. Công trình tu tập như một bộ hành trèo núi cao mấy mươi cây số; muốn đến được đỉnh, người bộ hành phải dẫm qua lắm đoạn đường chông gai, đá sỏi, vượt qua nhiều vách đá cheo leo và trải qua những đèo cao, hố thẳm, nhiên hậu mới mong ngồi bóng mát trên đầu non chót vót và ngắm xem bức sơn thủy muôn màu ngàn sắc của trần gian. Như vậy, muốn thực hiện được công phu này, phải đòi hỏi ở người có cặp chân cứng rắn, đôi mắt tinh anh, sức lực dồi dào và đủ tinh thần quả cảm. Thanh niên là tuổi máu nóng đang lên, nhựa sống căng thẳng, đời sống còn dài, nên dễ thực hiện được công tác này. Ðức Thích-ca ngày xưa nếu đợi sáu, bảy mươi tuổi mới đi tu, chắc ngày nay chúng ta không biết được mùi pháp vị là gì.

Trí tuệ: Ðức Phật là đấng đã giác ngộ. Người tu theo đạo Phật là noi theo con đường sáng suốt của Ngài đã qua để đến thành trì giác ngộ. Muốn được giác ngộ cần phải có trí tuệ, vì trí tuệ là ánh sáng quét sạch màn đêm và soi tỏ mọi vật, khiến chúng hiện bày chân tướng dưới mắt người. Tuy nhiên, muốn có trí tuệ ta cần phải có thân hình tráng kiện, như nói: "Một tâm hồn sáng suốt trong một thân thể tráng kiện"; hay ngược lại, cũng thế. Như vậy tuổi trẻ rất dễ phát khởi trí tuệ, người già yếu trí tuệ cũng bị ảnh hưởng phải lu mờ. Bằng chứng, cùng một bài học mà người trẻ học mau thuộc, người già học rất lâu. Do đấy nên tuổi trẻ là tuổi rất thích hợp với đạo Phật.

Mặc dù đạo Phật rất thích hợp với tuổi trẻ, nhưng với bậc lão thành, với người khổ sở, với kẻ chán đời... vẫn được đạo Phật tiếp độ. Vì đạo Phật là đạo bình đẳng, giáo lý Phật là giáo lý phổ biến vậy. Mái tóc xanh gần đạo Phật ở đức thanh tịnh... thì người đầu bạc cũng nhờ "tín" của đạo Phật mà vui vẻ những ngày tàn. Tuổi hoa niên thể theo đức từ bi mở rộng lòng thương, thì người khổ sở cũng nhờ bàn tay từ bi ấy xoa dịu đôi phần đau khổ. Hàng tráng niên đến với đạo Phật là cầu giác ngộ, cầu thành Phật quả; người chán đời đến với đạo Phật để nhờ câu kinh thâm diệu, nhịp mõ trầm hùng, tiếng chuông cảnh tỉnh mà lần lần cổi sạch mọi nỗi oán hờn.

Tóm lại, đạo Phật là đạo chung tất cả, nhưng thích hợp nhất là tuổi trẻ. Vì tuổi trẻ mới có đủ phương tiện thực hiện triệt để giáo lý cao siêu của Phật, và tuổi trẻ mới đủ bầu nhiệt huyết hăng hái quả cảm trên con đường tự giác, giác tha, dù gặp mọi gian nguy khó khổ. Do đó nên Phật dạy bốn pháp kiên cố đến quả Bồ-đề, "tuổi trẻ biết mộ đạo tu hành" là một trong bốn điều ấy vậy. Tuổi trẻ là tuổi thích hợp với đạo Phật, vậy những bạn thanh niên không nên luống phí thời giờ, phí thời kỳ quí báu ấy, đợi đến khi sức kiệt hơi tàn, có hối tiếc cũng không kịp.

Phật dạy: "Ngươi nói: 'Tôi còn trẻ cần phải chơi bời vui vẻ, đến ngày già sẽ tu'. Nhưng cái chết có khác nào kẻ cướp cầm gươm bén theo rình rập ngươi, một miếng mồi ngon của nó; như vậy làm sao ngươi chắc mà đợi đến ngày già đặng đưa tâm trí qua đường Ðạo đức?"

Chuyện về hai hạt lúa



Có hai hạt lúa nọ được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, đều to khỏe và chắc mẩy.

Một hôm, người chủ định đem chúng gieo trên cánh đồng gần đó. Hạt thứ nhất nhủ thầm:

“Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng. Ta không muốn cả thân mình phải nát tan trong đất. Tốt nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng trong lớp vỏ này và tìm một nơi lý tưởng để trú ngụ.” Thế là nó chọn một góc khuất trong kho lúa để lăn vào đó.

Còn hạt lúa thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới.

Thời gian trôi qua, hạt lúa thứ nhất bị héo khô nơi góc nhà bởi vì nó chẳng nhận được nước và ánh sáng. Lúc này chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được gì- nó chết dần chết mòn. Trong khi đó, hạt lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó lại mang đến cho đời những hạt lúa mới…

Đừng bao giờ tự khép mình trong lớp vỏ chắc chắn để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can đảm bước đi, âm thầm chịu nát tan để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ – đó là sự chọn lựa của hạt giống thứ hai.

Tôi hi vọng đó cũng sẽ là sự lựa chọn của bạn và tôi khi đứng trước cánh đồng cuộc đời bao la này…

Sưu tầm