Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

KINH NHÂN QUẢ BA ĐỜI



Một hôm, Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội.
Khi ấy A Nan Đà tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng, rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn rằng:
- Bạch Thế Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo, không trọng cha mẹ, không có tam cang. Năm giềng rối loạn, nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh hại mạng, cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do nhân duyên quả báo gì khiến nên như thế?
Cúi xin đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc.
Phật bảo A Nan cùng các đại đệ tử: "Lành thay! Lành thay! Các ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ."
Tất cả nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước mà cảm quả báo.
Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng sanh, và thứ tư cần ăn chay, bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau.
Phật liền nói bài kệ nhân quả rằng:
Giàu sang đều bởi mạng
Đời trước có tu nhân
Ai thọ trì Kinh nầy,
Đời đời hưởng phước lộc.
Thiện nam, tín nữ nghe ta nói:
Suy nhớ Kinh Nhân Quả Ba Đời,
Nhân quả ba đời việc chẳng nhỏ,
Phật nói lời thật chớ chê khinh.
1. Đời nay làm quan do nhân gì?
Kiếp trước vàng ròng thếp tượng Phật
Đời nay hưởng bởi nhân xưa
Đai vàng, áo tía, cầu nơi Phật.
Vàng trang nghiêm Phật, trang nghiêm mình.
Làm đẹp Như Lai, đẹp tự thân.
Đừng bảo làm quan là chuyện dễ,
Không tu, phước ấy đến từ đâu?
2. Cưỡi ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước làm cầu, bồi đắp lộ.
3. Do nhân duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước thí áo giúp Tăng Ni.
4. Có ăn, có mặc do nhân gì?
Xưa giúp kẻ nghèo cho ăn uống.
5. Ăn mặc thiếu thốn bởi nhân chi?
Kiếp trước một nửa không xả thí.
6. Lầu cao nhà lớn do nhân gì?
Xưa lên chùa am cúng thí gạo.
7. Phước lộc đầy đủ cho nhân gì?
Xưa lập chùa am cất nhà mát (1)
8. Tướng mạo xinh đẹp do nhân gì?
Đời trước hoa tươi cúng dường Phật.
9. Thông minh trí tuệ do nhân gì?
Kiếp trước ăn chay, thường niệm Phật.
10. Người thấy vui mừng do nhân gì?
Xưa kết duyên lành cùng đại chúng.
11. Chồng vợ bền lâu do nhân gì?
Đời trước tràng phan nghiêm cúng Phật.
12. Cha mẹ song toàn do nhân gì?
Đời trước kính trọng người cô độc.
13. Không cha mất mẹ do nhân gì?
Kiếp trước là người đánh bẫy chim.
14. Con cháu đông nhiều do nhân gì?
Đời trước mở lồng thả chim thú.
15. Nuôi con không được do nhân gì?
Xưa sinh con gái dìm cho chết (2).
16. Đời nay không con do nhân gì?
Kiếp trước bẻ gãy hại trăm hoa. (hoa biết nói)
17. Đời nay sống lâu do nhân gì?
Kiếp trước mua vật phóng sinh nhiều.
18. Đời nay mạng yểu do nhân gì?
Kiếp trước xẻ thịt giết chúng sinh.
19. Đời nay không vợ do nhân gì?
Kiếp trước tham mưu gian vợ người.
20. Đời nay ở góa do nhân gì?
Kiếp trước buông lung khinh rẻ chồng.
21. Làm thân tôi đòi do nhân gì?
Kiếp trước quên ơn cùng phụ nghĩa.
22. Đời nay mắt sáng do nhân gì?
Kiếp trước cúng dầu đốt đèn Phật.
23. Đời nay đui mù do nhân gì?
Kiếp trước chỉ đường chẳng phân minh.
24. Môi miệng sứt thiếu do nhân gì?
Kiếp trước thổi tắt đèn cúng Phật.
25. Đời nay câm điếc do nhân gì?
Xưa từng ác khẩu mắng cha mẹ.
26. Đời nay lưng gù do nhân gì?
Kiếp trước chê cười người lễ Phật.
27. Tay bị cong quẹo do nhân gì?
Đời trước đều là người tạo nghiệp.
28. Chân bị co rút do nhân gì?
Kiếp trước ngăn đường đánh cướp người.
29. Làm thân trâu ngựa do nhân gì?
Xưa thiếu nợ người không chịu trả.
30. Đọa làm heo chó do nhân gì?
Kiếp trước lừa gạt phỉnh hại người.
31. Đời nay nhiều bệnh do nhân gì?
Xưa đem rượi thịt bày cúng Phật.
32. Đời nay không bệnh do nhân gì?
Xưa thí thuốc men cứu bệnh nhân.
33. Hằng bị lao tù do nhân gì?
Kiếp trước làm ác chẳng nhượng người.
34. Đời nay chết đói do nhân gì?
Kiếp trước thường lấp hang rắn chuột.
35. Bị thuốc độc chết do nhân gì?
Kiếp trước dăng lưới giết hại cá.
36. Nổi trôi cơ khổ do nhân gì?
Ác tâm lấn hiếp mưu hại người.
37. Đời nay lùn bé do nhân gì?
Kiếp trước xem Kinh để dưới đất. (3)
38. Nay thường thổ huyết do nhân gì?
Xưa ăn thịt rồi đi tụng Kinh. (4)
39. Đời nay ngu điếc do nhân gì?
Kiếp trước tụng Kinh chẳng lắng nghe.
40. Ghẻ lác phong điên do nhân gì?
Xông hơi thịt cá trước bàn Phật.
41. Thân có mùi hôi do nhân gì?
Xưa bán hương thơm trọn dối gian.
42. Đời nay chết treo do nhân gì?
Kiếp trước đem dây săn bẫy thú.
43. Quan quả, cô độc do nhân gì?
Xưa thường ganh ghét hiềm mắng người.
44. Sét đánh lửa thiêu do nhân gì?
Cân non, giạ thiếu lòng gian xảo.
45. Rắn cắn cọp ăn do nhân gì?
Kiếp trước gây oan tạo đối đầu.
Muôn việc mình làm lại mình chịu
Thọ khổ địa ngục oán trách ai?
Đừng nói nhân quả người không thấy.
Xa trả con cháu, gần trả mình.
Chỉ nhìn trước mắt người hưởng phước.
Sẽ tin bố thí với trì trai.
Kiếp trước tu nhân nay hưởng quả.
Đời này tu tích để về sau.
Nếu ai hủy báng Kinh Nhân Quả
Kiếp sau đọa lạc mất thân người.
Kẻ nào thọ trì Kinh Nhân Quả
Chư Phật, Bồ Tát đều chứng minh
Kẻ nào biên chép Kinh Nhân Quả,
Truyền đời tu học, đạo nhà hưng.
Ai mà mang đội Kinh Nhân Quả,
Tai hung, hoạnh họa chẳng vào thân.
Nếu người giảng nói Kinh Nhân Quả,
Đời đời kiếp kiếp được thông minh.
Kẻ nào đề xướng Kinh Nhân Quả
Đời sau người thấy sinh cung kính
Người nào ấn tống Kinh Nhân Quả
Kiếp sau sẽ được thân Đế Vương.
Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời trước
Chính sự thọ hưởng của đời nay.
Theo Kinh Nhân Quả hỏi đời sau
Chính sự gây nhân của kiếp này.
Nếu như nhân quả không cảm ứng,
Do đâu Mục Liên cứu được mẹ?
Người nào tin sâu Kinh Nhân Quả,
Đồng sinh Tây phương cõi Cực Lạc.
Nhân quả ba đời nói không hết
Thiên long chẳng bỏ ý người lành.
Nên ngôi Tam Bảo ruộng phước lớn,
Nhân tu tuy một, hưởng muôn ngàn.
Gởi kho bền chắc không hư mất, (5)
Nhiều đời thọ dụng phước vô cùng.
Muốn biết nhân đời trước
Xem sự hưởng đời nầy.
Muốn biết quả đời sau
Xem việc làm kiếp nầy.
Chú Thích:

(1) Nhà dưỡng Lão, cô nhi.
(2) Thuở xưa từ Ấn Độ, cho đến Trung Hoa, những nhà nghèo sinh con nhiều nuôi không kham nên dìm cho chết bớt con gái lúc mới sinh ra.
(3) Ngồi dưới đất xem kinh, nên để kinh trên một cái bệ, khinh mạn cũng là nhân của tướng lùn bé. Lễ Phật, khiêm hạ là nhân của tướng cao hơn.
(4) Ăn mặn rồi muốn tụng kinh, phải súc miệng rửa tay, rửa miệng sạch, và tụng chú như sau. Tất được thanh tịnh không tội lỗi: Tịnh tam nghiệp chân ngôn: Um Soa Pha Va Suýt Đà, sạt và đạt ma, soa phạ va suýt đa hàm (7 biến) Aum! Syabhava sudaha, sarva drama svabhava suddhà hàma.
(5) Gởi kho đây không phải đốt giấy tiền vàng bạc gởi vào kho, mà ý nói tiền của thế gian không bền, khi chết rồi phải bỏ lại tất cả. Chỉ có tu phước làm lành ăn chay, tụng kinh, tham thiền, niệm Phật, là kho.
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

LẤY ĐỨC BÁO OÁN



Có một bà vợ của anh cư sĩ phật tử chẳng may bị xe du lịch nhỏ đụng chết. Anh tài xế vì không có tiền bồi thường nên phải chịu ngồi tù. Anh cư sĩ Phật tử này không những không oán hận anh tài xế mà ngược lại còn đi đến thăm hỏi, an ủi anh ta. Anh nói với tài xế: “Xin anh chớ nên vì chuyện này mà sầu lo, tuy vợ tôi đã bị xe đụng chết, nhưng bản thân anh còn có vợ con, họ đang rất cần anh kiếm tiền về nuôi cả gia đình. Mong rằng từ đây về sau, anh lái xe nên cẩn thận, phải giữ tâm luôn bình tỉnh, chớ nên nóng vội giành đường vượt ẩu”. Anh tài xế sau khi nghe xong cảm động rơi lệ.
Vị cư sĩ Phật tử này đã dùng tâm từ bi để giải quyết việc tài xế gây tai nạn cho vợ anh ta. vợ anh bị xe đụng chết, đương nhiên lòng anh rất đau xót, nhưng anh không chọn lấy hành động báo thù, ngược lại còn làm nhiều việc thiện hơn để ghi nhớ kỷ niệm và hồi hướng cho vợ mình.
Trong cách đối xử này, vì đã tha thứ cho lỗi lầm của người lái xe kia, lại còn an ủi anh ta, nên trong lòng anh cư sĩ Phật tử cảm thấy như được chia sẻ an ủi phần nào, cho nên anh không rơi vào trong cảnh đau khổ vì mất vợ.
“Chỉ có hiểu và thông cảm cho người vô tình gây cho mình sự buồn thương thì bạn mới hết đau buồn.”
trích: tha thứ sớm sẽ được vui vẻ sớm
dịch giả: Tỳ Kheo Minh Kiết

Mười nghiệp lành

CHÚC XUÂN!!!



Mừng xuân Giáp Ngọ đáo trần ca
Phúc đức tràn đầy khắp mọi nhà
Rực rỡ mai đào pha sắc nắng
Nồng nàn huệ cúc ngát hương hoa
Từ bi hỷ xả tròn Tam Bảo
Quảng đại bao dung vẹn Bửu Tòa
Ấm áp sum vầy an lạc mãi
Cùng chào đón khởi điểm giao thoa…
Tác giả: Boong Boong

ĐỂ HỌ TỰ CẢM THẤY XẤU HỔ



Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta không nên vì một chút chuyện nhỏ nhặt không hài lòng mà động đến liền mắng người này, giận người kia. Bạn phải nghĩ, cho dù đối phương có sai đi nữa mình cũng vẫn nên tha thứ cho họ.
Nhưng, có một hạng người làm sai mà ta khuyên bảo không được, vì khi bạn vừa nói thì họ sẽ kết thù với bạn.
Đối với hạng người này, chúng ta không thể dùng cách quở trách để giải quyết vấn đề, cũng không cần phải dùng lời lẽ để tranh biện với họ, chỉ cần chúng ta tha thứ họ, bao dung họ, từ bi với họ, kết bạn với họ, để họ tự cảm thấy lòng mình xấu hổ và biết rằng việc đối phó với bạn là điều không nên. Nếu bạn làm được như vậy thì từ phương diện kẻ thù, họ sẽ dần dần chuyển thành bạn tốt của bạn.
Còn nếu chúng ta không thể tha thứ cho kẻ thù, cảm hoá kẻ thù, thì bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào họ cũng có thể đánh bạn, hại bạn. Vì vậy, chúng ta cần phải hoá giải mối xung đột giữa hai người. Cho nên, muốn hóa giải mối xung đột giữa mình và người thì cách tốt nhất chính là làm họ cảm động chuyển thù thành bạn.
“Cách tốt nhất để khiến người ta hổ thẹn sửa sai đó là im lặng và tha thứ.”
dịch giả: Tỳ Kheo Minh Kiết
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

THA THỨ CHO NGƯỜI CÓ HÀNH ĐỘNG QUÁI DỊ



Có một số người rất dễ sống chung, rất dễ qua lại với nhau. Những người như vậy dễ đồng cảm, tha thứ, quan tâm đến người khác.
Còn có một số người thì tính cách gàn dở, cách nghĩ quái lạ; nói theo quan điểm của bạn thì anh ta sai, nhưng theo quan điểm của họ thì họ cho rằng mình đúng, vì họ nghĩ mình đã là người trưởng thành. Loại người như vậy không chịu tiếp thu ý kiến của người khác mà chỉ muốn người khác tiếp thu ý kiến của mình.
Trong một đoàn thể, nếu gặp phải người có quan niệm quái lạ này thì bạn sẽ cảm thấy rất đau khổ, nhưng bạn vẫn phải chấp nhận họ. Bạn nên đứng vào vị trí của họ để nghĩ về họ. Bạn nên tha thứ cho họ, thông cảm họ. Nhưng, bạn không hẳn phải đồng ý hay thừa nhận họ. Nếu không thì bạn sẽ đánh mất mình và dần trở thành một sản phẩm phụ thuộc về họ.
Cách cư xử giữa con người với nhau cần phải có sự hiểu nhau. Nếu đã không hiểu nhau thì phải thỏa hiệp. Và nếu thoả hiệp không thành thì hãy nên tha thứ và nhường nhịn họ.
Nếu không thì mỗi người chỉ biết nhìn sự việc qua quan điểm riêng của mình, sẽ tạo thành mối quan hệ không tốt.
“Nếu bạn hiểu được nóng giận sẽ mất đi người thân thì bạn sẽ không còn nóng giận nữa.”
dịch giả: Tỳ Kheo Minh Kiết
admin: @https://www.facebook.com/chaptay.niemphat
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

CÚNG SAO GIẢI HẠN, ĐỐT GIẤY TIỀN VÀNG MÃ LÀ ĐÚNG HAY SAI ?



Đốt vàng mã là một tục lệ dân gian, xuất phát từ thời nhà Hán (Trung Quốc). Do nhà vua muốn thực hành lời dạy của Đức Khổng Tử: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, nghĩa là thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất như thờ người còn. Vậy nên khi nhà vua băng hà, chúng thần và hậu cung đã phải bỏ tiền bạc thật vào trong áo quan để vua tiêu dùng. Sau đó quan bắt chước vua, dân bắt chước quan. Ai cũng chôn tiền thật theo người chết thành một tục lệ. Bọn trộm cướp biết vậy nên đào trộm mồ những người giầu có, như mộ vua Hán Văn Đế bị trộm khai quật lấy hết vàng bạc châu báu. Về sau từ quan đến dân thấy việc chôn tiền bạc thật quá tốn kém nên mới nảy sinh ra dùng giấy cắt ra làm tiền giả, vàng giả để thay thế. Chuyện đốt tiền giấy (vàng mã) ra đời từ đó và trở thành tập tục. Tập tục này được du nhập vào Việt Nam theo những người Trung Hoa. Trước khi đốt vàng mã, mỗi người cần suy nghĩ thật kỹ xem tác dụng thực của việc “hoá vàng” đến đâu. Đã là tập tục thì khó bỏ, chỉ trừ có sự đồng thuận của mọi người trong xã hội. Cúng sao hạn là tập tục đã tồn tại lâu đời trong dân gian. Tập tục này có nguồn gốc từ Lão giáo. Sao hạn được tính căn cứ trên học thuyết ngũ hành xung khắc. Theo sự vận chuyển của ngũ hành, mỗi năm có một vì sao chiếu mạng vào một tuổi của từng người. Còn hạn là niên hạn, là cách thức riêng ứng với sao chiếu mạng là tốt hay xấu. Tuy bắt nguồn từ Lão giáo ở Trung Hoa, nhưng tập tục này lại ăn sâu vào quan niệm của người dân Việt và trở thành một tập tục lâu đời của người Việt. Người Việt tin rằng, mỗi năm có một vì sao cai quản, có sao tốt có sao xấu. Nếu gặp sao xấu, người ta phải cúng sao giải hạn để được an lành. Có tất cả chín vì sao chia nhau cai quản con người và tám niên hạn. Chín vì sao là: La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Âm, Thái Dương, Kế Đô, Mộc Đức, Vân Hớn. Tám niên hạn là: Huỳnh Tuyền, Tam Kheo, Ngũ Mộ, Thiên Tinh, Toán Tận, Thiên La, Đại Võng, Diêm Vương. Từ Lão giáo qua dân gian rồi đi vào Phật giáo, nhưng ngày nay, tập tục này được xem như tục tập lỗi thời đối với nhà truyền giáo Phật giáo. Đoán sao, đoán hạn và cúng giải sao hạn ngày nay còn diễn ra ở các chùa là sai. Trong kinh Di giáo chương I, Đức Phật dạy: Các vị Tỳ-Khưu, sau khi Tôi nhập-diệt, các vị nên tôn-trọng Ba-La-Đề-Mộc-Xoa, như tối gặp sáng, như người nghèo được của báu. Các vị nên biết giới ấy là bậc Đại-Sư của các vị và không khác gì Tôi còn ở đời vậy. Người giữ giới thanh-tịnh, không được làm những việc như: buôn bán, đổi chác, tạo dựng ruộng nhà, nuôi dưỡng người dân, tôi tớ, súc sinh. Hết thảy sự trồng trọt, các của cải châu báu, đều nên tránh xa, như tránh hầm lửa. Không được chặt phát cây cỏ, đào sới đất đai, điều-hòa thuốc thang, xem tướng tốt xấu, quan sát tinh-tú, suy-đoán đủ thiếu, lịch-số kế-toán, đều không nên làm. Là Phật tử, chúng ta phải thấy những gì lỗi thời lạc hậu, những gì là văn hóa, là nét đẹp của văn hóa dân gian hay văn hóa đạo Phật .